10 câu chuyện sức mạnh của chân thật và nguyện cầu chân lý (Hết)

Ngày đăng: Thứ 7 , 17/11/2018 22:34 .

Một thuở nọ, khi đại đế Sivi cai trị tại kinh thành Aritthapura trong quốc độ Sivi. Bậc Đại sĩ sinh ra làm vương tử. Triều thần đặt tên ngài là Vương tử Sivi. Khi ngài lớn lên, ngài đi đến Takkasikà học tập tại đó, xong trở về chứng tỏ tài năng kiến thức của ngài trước vua cha nên được phong làm phó vương.

 
Chương V: Sức mạnh chân thật của nguyện cầu và sự kiên định/quyết tâm kiên cố
 
Chuyện thứ chín: Nguyện lực chân lý về sự kiên định bố thí đôi mắt được thiên nhãn
 
(Trích từ chuyện số 499: Chuyện Đại vương Sivi (Tiền thân Sivi)
 
Nếu thí tài gì thuộc thế nhân...
Chuyện này bậc Đạo sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về lễ vật cúng dường tối thượng.
Trường hợp này đã được kể đầy đủ trong chương VIII ở số 424: Tiền thân Savìra. Song tại đây vào ngày thứ bảy, vua dâng đủ tất cả vật cúng dường và thỉnh cầu lời tùy hỷ; tuy nhiên, bậc Đạo sư ra đi mà không tán thán công đức của vua. Sau buổi điểm tâm, vua đi đến tịnh xá và hỏi:
 
- Bạch Thế Tôn, vì cớ gì Thế Tôn không đáp lời tùy hỷ hôm ấy?
 
Bậc Đạo sư nói:
 
- Thưa Đại vương, hội chúng kia không thanh tịnh.
 
Ngài lại tiếp tục thuyết Pháp, ngâm vần kệ bắt đầu bằng câu: "Người hà tiện sẽ không lên Thiên giới (Pháp cú 177)". Vua đầy hoan hỷ bày tỏ lòng tôn kính đối với đức Như Lai bằng cách dâng chiếc thượng y của xứ Sivi trị giá một ngàn đồng tiền; sau đó vua trở về thành.
 
Ngày hôm sau trong Chánh pháp đường, tăng chúng nói về chuyện ấy:
 
- Này các Hiền giả, vua Kosala đã cúng dường lễ vật tối thượng và chưa hài lòng với việc ấy, nên sau khi đấng Thập Lực thuyết giáo cho vua ấy, vua liền dâng chiếc y của xứ Sivi trị giá cả một ngàn đồng tiền vàng! Quả thật vua không hề thỏa mãn với việc cúng dường!
 
Bậc Đạo sư bước vào và hỏi các vị đang bàn việc gì khi ngồi đó. Tăng chúng trình với Ngài. Ngài bảo:
 
- Này các Tỳ kheo, bố thí ngoại tài quả thật là điều có thể thỏa đáng được, song các bậc trí nhân ngày xưa đã bố thí cho đến khi khắp cả Diêm phù đề đều vang danh lừng lẫy, mỗi ngày bố thí cả sáu trăm ngàn đồng tiền, vẫn chưa thỏa mãn với việc bố thí ngoại tài và nhớ lại câu phương ngôn: "Hãy đem cho cái gì ta yêu quý nhất và từ tâm sẽ sinh khởi", cho nên các vị ấy đã móc đôi mắt mình ra tặng những kẻ nào đòi xin chúng.
Cùng với những lời này; Ngài kể một chuyện quá khứ.
 
Một thuở nọ, khi đại đế Sivi cai trị tại kinh thành Aritthapura trong quốc độ Sivi. Bậc Đại sĩ sinh ra làm vương tử. Triều thần đặt tên ngài là Vương tử Sivi. Khi ngài lớn lên, ngài đi đến Takkasikà học tập tại đó, xong trở về chứng tỏ tài năng kiến thức của ngài trước vua cha nên được phong làm phó vương.
 
Lúc phụ vương băng hà, ngài lên ngôi vua và từ bỏ các ác đạo, ngài hành trì Thập vương pháp và trị dân rất chân chánh. Ngài truyền xây sáu bố thí đường tại bốn cổng thành, giữa kinh thành và ngay cửa cung của ngài. Ngài bố thí rất hào phóng mỗi ngày sáu trăm ngàn đồng tiền vào các ngày mùng tám, mười bốn và ngày rằm, ngài chẳng hề quên thăm viếng các bố thí đường để xem xét bố thí được thực hành ra sao.
 
Vào một ngày trăng tròn kia, chiếc lọng hoàng gia đã được giương lên từ sáng sớm và ngài ngự trên ngai vàng suy ngẫm về các thí vật ngài đã ban phát. Ngài tự nghĩ: "Trong tất cả các tài vật bên ngoài, chẳng có món gì ta không đem cho hết, song cách bố thí này chưa làm ta hài lòng. Ta muốn bố thí vật gì thuộc về bản thân ta. Ðược rồi hôm nay ta đến bố thí đường phát nguyện rằng nếu có người nào không xin một vật gì đó ngoài thân ta, lại nói rõ tên một phần thân thể ta, nếu người ấy muốn nói đến chính quả tim ta, ta sẽ quyết lấy dao xẻ phăng lồng ngực ta và chẳng khác nào ta nhổ lên một cọng sen từ hồ nước phẳng lặng, ta sẽ móc lấy quả tim ta đang chảy máu từng cục đem cho người ấy.
 
Nếu người ấy muốn xin thịt ta, ta sẽ xẻ thịt ra từ thân thể và cho nó, như thế ta dùng cái dao mà khắc chạm tấm thân này. Người đó cứ nói đến máu của ta, ta sẽ lấy máu ta nhỏ từng giọt vào miệng người đó, hoặc đổ đầy một chén rồi đem cho, hoặc nữa, giả sử có ai bảo: "Hạ thần không làm nổi việc nhà, xin hãy đến làm gia nô tại nhà hạ thần", ta nhận mình là nô lệ và ta sẽ làm hết các việc nô dịch. Hoặc giả có ai đó xin đôi mắt ta, ta sẽ móc mắt ra cho nó như người ta lấy lõi của cây dừa nước". Ngài nghĩ thầm như vậy:
 
Nếu thí tài gì thuộc thế nhân,
Dẫu là đôi mắt, chẳng hề ban,
Giờ đây ta sẽ đem ban bố,
Lòng chẳng hãi kinh, thật vững vàng.
 
Thế rồi ngài tắm mình với mười sáu bình nước hoa thơm và trang sức cực kỳ lộng lẫy và sau một buổi cơm đầy cao lương mỹ vị, ngài ngự lên một con voi được tô điểm cân đai rất rực rỡ đưa ngài đến đại bố thí đường. Khi Sakka (Ðế Thích) Thiên chủ nhận thấy quyết tâm của ngài liền suy nghĩ: "Vua Sivi đã cương quyết đem đôi mắt ngài bố thí cho kẻ nào ngẫu nhiên đến xin ngài. Thế ngài có đủ hùng lực để thực hiện việc đó hay chăng?
 
Thiên chủ quyết định đi thử thách ngài, nên giả dạng một Bà la môn già mù mắt, Thiên chủ đứng trên một chỗ cao, khi đức vua bước vào bố thí đường, Thiên chủ đưa tay ra, kêu lớn:
 
- Vạn tuế Ðại vương!
 
Lúc ấy vua lái vương tượng về phía Thiên chủ, phán bảo:
 
- Này Bà la môn ông nói gì vậy?
 
Thiên chủ đáp:
 
- Tâu Ðại vương, trên cõi thế gian này không nơi nào không vang dậy phương danh về từ tâm hào phóng bố thí của Ðại vương. Nay lão đã mù lòa, còn Ðại vương có đủ hai mắt.
 
Rồi Thiên chủ ngâm vần kệ đầu để xin một con mắt:
 
1. Chẳng có mắt, nên chính lão già,
Ðến xin con mắt, tự phương xa,
Lão cầu Chúa thượng ban con mắt
Một mắt cùng nhau mỗi chúng ta.
 
Khi bậc Ðại sĩ nghe lời này, ngài suy nghĩ: "Chính đó là chuyện mà ta suy nghĩ ở hậu cung trước khi ta đến đây kia! Ồ cơ duyên đến mới tuyệt diệu làm sao chứ! Tâm nguyện của ta hôm nay sẽ được thành tựu, ta sẽ bố thí một tài vật mà chưa một người thế tục nào từng ban phát" và ngài ngâm vần kệ thứ hai:
 
2. Ai đã dạy ông bước đến đây,
Ðể xin một mắt, lão ăn mày?
Ðây phần thân thể người cao trọng,
Chúng bảo xa lìa khó lắm thay!
 
Các vần kệ sau là do hai vị ngâm để đối đáp với nhau:
 
Lão Bà la môn:
 
3. Su-ja Phu tướng, chính nơi đây,
Người gọi Ma-gha cũng hiệu này,
Ngài dạy lão về đây yết kiến,
Van nài cho được một mắt ngay.
 
4. Thí tài tối trọng đại, mong cầu
Chúa thượng ban già một bảo châu,
Xin chớ chối từ già một mắt,
Thí tài tối trọng, đứng hàng đầu,
Như lời thế tục thường hay nói:
"Thật khó cho người dứt bỏ sao!"
Vua Sivi:
 
5. Ước nguyện làm ông đến tận đây
Trong lòng ông khởi ước như vầy,
Cầu mong nguyện ước kia thành tựu,
Ðạo sĩ, cầm đôi mắt trẫm này!
 
6. Ông chỉ xin ta một mắt thôi,
Nhìn xem! Ta bố thí tròn đôi!
Hãy đi với nhãn quang hoàn hảo
Trước mắt nhìn theo của mọi người,
Vậy ước nguyện ông mong thực hiện
Giờ đây hẳn đã đạt thành rồi!
 
Ðức vua đã nói nhiều như thế. Song nghĩ rằng nếu ngài tự móc mắt của mình ra mà tặng ngay tại đó, vào lúc ấy thì không thích hợp, nên ngài đem vị Ba la môn cùng vào nội cung với ngài và khi ngự lên ngai vàng, ngài truyền lệnh triệu một vị phẫu thuật sư tên là Sivaka vào chầu. Rồi ngài phán:
 
- Khanh hãy lấy mắt trẫm ra.
 
Lúc bấy giờ cả kinh thành vang dậy nguồn tin rằng đức vua muốn cắt đôi mắt ngài ra để bố thí cho một lão Bà la môn. Sau đó vị đại tướng quân cùng với các viên quan khác và mọi người thân thuộc của vua, từ trong kinh thành lẫn hậu cung đều tề tựu cùng nhau và ngâm ba vần kệ để xin vua từ bỏ ý định trên:
 
7. Xin đừng cho mắt, tấu Minh quân!
Chúa thượng ôi, đừng bỏ chúng thần!
Bố thí san hồ, tiền, bảo ngọc,
Và nhiều vật khác quý vô ngần.
 
8. Cho bầy tuấn mã đủ yên cương,
Bảo kéo đoàn xa giá xuống đường,
Chúa thượng truyền xua đoàn bảo tượng
Cân đai tuyệt mỹ rặt toàn vàng.
 
9. Các vật này xin Chúa thượng ban,
Chúng thần mong hộ chúa bình an,
Toàn dân trung tín cùng xa pháp,
Tề tựu quanh vương vị xếp hàng.
 
Vua lập tức đáp lời, ngâm ba vần kệ:
 
10. Tâm kẻ muốn ban bố, phát nguyền,
Về sau lại thấy chẳng trung kiên,
Cổ mình tự đặt vào thòng lọng
Che giấu nằm sâu dưới đất liền.
 
11. Tâm nào đã thệ nguyện thi ân,
Sau lại thấy lòng chẳng thuỷ chung,
Thật lỗi lầm hơn là tội ác,
Phải đày đọa ngục Dạ ma cung.
 
12. Ðừng cho gì nếu chẳng ai xin,
Cũng chớ cho ai thứ chẳng thèm,
Vậy vật này đây hành khất muốn
Cầu xin, trẫm bố thí ngay liền.
 
Lúc ấy triều thần vừa hỏi:
 
- Vậy Chúa thượng ước nguyện điều gì khi bố thí cặp mắt của Chúa thượng?
 
Họ vừa ngâm vần kệ:
 
13. Thọ mạng, sắc, quyền lực, lạc hoan,
Ðâu là phần thưởng, tấu Minh quân?
Lực nào thúc giục ngài hành động,
Chúa thượng Sivi của quốc dân,
Sao lợi gì cho đời kế vậy,
Ngài đành bỏ cặp mắt mình vàng?
 
Vua đáp hội chúng qua vần kệ:
 
14. Như vậy, trong khi muốn cúng dường,
Ðích ta chẳng nhắm đạt vinh quang,
Nhiều con, nhiều của, nhiều vương quốc,
Ðể nắm quyền cai trị thế gian.
Ðây chính là con đường Thánh thiện,
Từ xưa của các bậc Hiền nhân;
Tâm ta nồng nhiệt hằng mong ước
Ðem mọi thí tài để phát ban.
 
Trước lời lẽ của bậc Ðại sĩ, quần thần không đáp được nữa, vì thế bậc Ðại sĩ ngâm kệ bảo Sivaka, vị phẫu thuật sư:
 
15. Bạn hiền, chí thiết, Sivaka,
Xin hãy làm theo lệnh của ta,
Bạn có đầy tài năng kỹ xảo, 
Xin đem liền cặp mắt ta ra,
Vì đây là chính điều tâm nguyện,
Và tặng vào tay khất sĩ già.
 
Song Sivaka đáp:
 
- Tâu Chúa thượng, xin Chúa thượng suy nghĩ lại. Ðem cho cặp mắt không phải là chuyện tầm thường đâu!
 
- Này Sivaka, trẫm đã suy xét kỹ rồi. Xin đừng trì hoãn hay nói chuyện gì nhiều trước mặt trẫm nữa.
 
Lúc ấy Sivaka suy nghĩ: "Một phẫu thuật sư như ta lại lấy lưỡi dao đâm thủng cặp mắt một bậc quân vương thật chẳng hợp lý tí nào". Vì vậy vị ấy giã một ít cây thuốc, chà xát một đóa sen xanh với thứ bột ấy rồi xoa khắp lên mắt phải của vua; con mắt liền đảo lộn tròng, hết sức đau đớn.
 
- Tâu Ðại vương, xin ngài hãy suy nghĩ kỹ, hạ thần có thể làm cho mắt bình phục được ngay.
 
- Này hiền hữu, cứ làm tiếp đi, xin đừng trì hoãn nữa.
 
Vị ấy lại xát thứ bột kia vào mắt và xoa bóp cho thuốc thấm: con mắt bật ra khỏi lỗ, nỗi đau đớn lại càng khốc liệt hơn trước nữa.
 
- Tâu Ðại vương, xin ngài hãy suy nghĩ lại, hạ thần vẫn có khả năng phục hồi con mắt ngài như cũ.
 
- Khanh hãy làm việc nhanh lên!
 
Lần thứ ba, vị phẫu thuật sư xoa một thứ bột mạnh hơn nữa và xát vào; nhờ công hiệu của thuốc này, con mắt đảo lộn và lăn ra ngoài lỗ mắt, dính lủng lẳng ở đầu sợi dây gân.
 
- Tâu Ðại vương, xin ngài hãy suy nghĩ lần nữa, nay hạ thần vẫn có thể phục hồi con mắt lại như trước.
 
- Thôi nhanh lên.
 
Nỗi đau đớn đến tột độ, máu chảy từng giọt, hoàng bào của vua vấy toàn máu đỏ. Ðám cung tần cùng triều thần quỳ xuống kêu van:
 
- Tâu Chúa thượng, xin đừng hy sinh đôi mắt của Chúa thượng.
 
Cả đám người kêu gào thảm thiết. Vua cố chịu đựng đau đớn và bảo:
 
- Này hiền hữu, hãy nhanh lên.
 
- Xin vâng, tâu Chúa thượng.
 
Phẫu thuật sư đáp, tay trái cầm lấy tròng mắt, tay phải cầm dao cắt đứt sợi gân và đặt con mắt vào bậc Ðại sĩ.
 
Ngài nhìn con mắt phải ấy bằng mắt trái vừa cố chịu đau vừa phán:
 
- Này Bà la môn hãy đến đây.
 
Khi vị Bà la môn đến gần, ngài nói tiếp:
 
- Nhãn quang Chánh giác còn thân thiết hơn nhãn quang này cả trăm lần, à không, cả ngàn lần kia. Ðấy, các người đã hiểu lý do trẫm hành động như vậy.
 
Rồi ngài trao mắt cho vị Bà la môn, lão liền đưa tay ra đón lấy mắt đặt ngay vào chỗ mắt mình. Nhờ thần lực của vị ấy, con mắt dính chặt vào đó chẳng khác nào đóa sen xanh nở ra. Khi bậc Ðại sĩ dùng mắt trái nhìn thấy con mắt kia trên mặt của vị Bà la môn, ngài kêu lớn:
 
- Ôi tốt lành thay là việc bố thí con mắt này của ta.
 
Rồi nỗi hân hoan sinh khởi trong tâm ngài làm rung động toàn thân ngay giây phút ấy, ngài lại bố thí luôn con mắt kia. Ðế Thích Thiên chủ cũng đặt con mắt này vào lỗ mắt của mình và từ cung vua, Thiên chủ ra đi, sau đó rời kinh thành trước ánh mắt kinh ngạc của mọi người nhìn theo, rồi trở về Thiên giới.
 
Ðể giải thích việc này, bậc Ðại sĩ ngâm một vần kệ rưỡi:
 
16. Si vi chúa tể giục Siva
Hoàn tất tâm nguyện của đức vua,
Trao tặng Bà la môn tài thí vật,
Y sư lấy cặp mắt ngài ra,
Bà la môn có liền đôi mắt,
Chúa thượng giờ đây phải tối lòa.
 
Chẳng bao lâu, đôi mắt vua bắt đầu mọc lại, trong lúc chúng xuất hiện từ từ và trước khi lên đến đỉnh cao của hai lỗ mắt, một cục thịt lớn dần bên trong lỗ như thể trái cầu bằng lông thú, tựa hồ đôi mắt trên hình đứa trẻ nhồi bông, song nỗi đau đớn đã chấm dứt. Bậc Ðại sĩ an nghỉ trong cung thất ít ngày. Sau đó ngài suy nghĩ: "Một kẻ mù lòa còn dính líu gì đến việc trị nước nữa. Ta muốn giao quốc độ cho các triều thần, rồi vào ngự viên thành kẻ khổ hạnh, sống đời thanh tịnh".
 
Ngài liền triệu tập quần thần, nói cho hội chúng nghe những việc ngài dự định làm. Ngài phán:
 
- Một người sẽ ở bên ta để rửa mặt, chăm sóc ta làm những gì cần thiết và phải buộc một sợi dây để dắt ta đi về nơi ẩn dật.
 
Sau đó ngài truyền gọi viên quan lái xe của ngài đến và ra lệnh cho người ấy chuẩn bị vương xa. Song triều thần không muốn ngài ra đi bằng xe ngựa, họ đưa ngài lên đường trong chiếc kiệu bằng vàng và đặt ngài xuống bên cạnh bờ hồ, đứng vây quanh ngài, canh phòng cẩn thận xong lại ra về. Còn vua ngồi trong kiệu suy nghĩ đến việc bố thí của mình.
 
Lúc ấy chiếc ngai của Sakka (Ðế Thích) Thiên chủ nóng rực lên. Thiên chủ xem xét và nhận thấy lý do kia: "Ta sẽ ban thưởng vua một điều ước", ngài suy nghĩ "và làm đôi mắt của vua bình phục trở lại". Vì thế Thiên chủ đến chỗ ấy. Khi không còn cách xa bậc Ðại sĩ mấy, Thiên chủ cất bước đi đi lại lại quanh đó.
 
Ðể giải thích việc này, bậc Ðạo sư ngâm các vần kệ sau:
 
17. Vài ngày qua cặp mắt vừa lành,
Bình phục dần nên lại hiện hình,
Ðại đế Sivi nuôi quốc độ
Triệu quan điều ngự của riêng mình;
 
18. "Ngự quan, chuẩn bị chiếc vương xa,
Rồi đến đây trình báo với ta,
Ta muốn vào khu rừng, thượng uyển,
Ðầy hồ sen súng mọc chen hoa".
 
19. Quan đặt vua vào chiếc kiệu hoa,
Và đây, dừng kiệu ở bên bờ,
Su-ja Phu tướng, ngài Thiên chủ,
Xuất hiện, chính là Ðại Sakka.
 
- Ai đó?
 
Bậc Đại sĩ kêu lên khi ngài nghe tiếng bước chân kia. Ðế Thích Thiên chủ liền ngâm vần kệ:
 
20. Chính ta là Thượng đế Sakka,
Ta đến đây tham kiến nhà vua,
Hãy chọn hồng ân, này Thánh chúa,
Điều gì ngài ước, nói cùng ta.
 
Vua đáp lời qua vần kệ khác:
 
21. Sinh lực, kho vô tận, bảo châu,
Ta đều bỏ lại hết đằng sau,
Thiên hoàng, ta chẳng mong gì nữa
Trừ chết, vì ta có mắt đâu!
Sau đó Thiên chủ hỏi:
 
- Này Ðại vương Sivi, ngài cầu mong cái chết vì ngài muốn chết hay vì ngài mù lòa?
 
- Tâu Thiên chủ, vì ta mù lòa.
 
- Này Ðại vương, tài vật bố thí tự nó không phải là hoàn toàn đầy đủ ý nghĩa, mà nó phải được bố thí với một cái nhìn hướng về đời sau. Tuy thế, vẫn còn có duyên cớ liên quan đến cuộc đời hiện tại này. Trước đây, người kia xin ngài chỉ một mắt, ngài lại cho cả hai, vậy ngài hãy phát nguyện nói lời Chân thật về việc đó.
 
Rồi Thiên chủ ngâm kệ:
 
22. Chúa tể của loài lưỡng túc nhân,
Hãy nguyền nói đúng lẽ toàn chân,
Nếu ngài tuyên bố lời chân thật,
Ðôi mắt ngài nay sẽ phục hoàn.
 
Nghe lời này, bậc Ðại sĩ đáp:
 
- Tâu Thiên chủ, nếu ngài muốn ban cho trẫm con mắt thì xin đừng cố tìm phương tiện gì khác nữa, mà hãy làm cho mắt trẫm phục hồi như là kết quả hạnh bố thí của trẫm thôi.
 
Thiên chủ bảo:
 
- Này Ðại Vương, dù ta được chúng gọi là Ðế Thích, Chúa tể chư Thiên, ta cũng không thể đem con mắt cho ai được cả; tuy thế, nhờ thiện quả từ hạnh bố thí của Ðại vương, chứ chẳng phải do việc gì khác, mà mắt của Ðại vương sẽ được phục hồi đó thôi.
 
Tiếp theo, vua ngâm kệ xác nhận việc bố thí của mình đã được thực hiện tốt đẹp chân chánh:
 
23. Loài nào bất kể, muốn cầu ân,
Hễ có ai nài nỉ lại gần,
Ai đến bất kỳ, xin bố thí,
Lòng ta cũng thấy thật thương thân:
Nếu lời Ðại nguyện này chân thật,
Cầu mắt ta nay sẽ hiện dần.
 
Ngay khi ngài vừa thốt những lời này, một con mắt của ngài xuất hiện ra trong lỗ mắt. Sau đó ngài ngâm đôi vần kệ để xin phục hồi con mắt kia:
 
24. Một đạo sĩ kia đến viếng ta,
Chỉ cần xin một mắt thôi mà,
Ta đã đem trọn đôi con mắt,
Bố thí La môn khất sĩ già.
 
25. Hoan hỉ càng nhiều, lạc thọ tăng,
Chính hành động ấy đã ban phần,
Nếu lời Nguyện ước này Chân thật, 
Mong được mắt kia cũng phục hoàn.
 
Lập tức con mắt thứ hai xuất hiện, song đôi mắt này không phải là tự nhiên hay của thần linh nào. Con mắt do Ðế Thích Thiên chủ giả dạng Ba la môn ban cho, không thể là con mắt tự nhiên mà có được, ta phải hiểu như vậy; còn về phương diện khác, thì một con mắt thần linh không thể hóa hiện ra bất cứ sinh vật nào đã bị thương tật. Nhưng thật sự cặp mắt này được gọi là Nhãn quang Toàn chân và Tối thắng.
 
Vào lúc chúng xuất hiện, toàn thể triều thần tề tựu lại nhờ thần lực của Ðế Thích Thiên chủ; và Ðế Thích Thiên chủ đứng giữa hội chúng, cảm hứng ngâm đôi vần kệ tán thán đức vua:
 
26. Ðại đế Sivi bảo dưỡng dân!
Bài ca thánh thiện của Minh quân
Cho ngài được hưởng phần ân huệ
Vô giá này, đây cặp mắt thần.
 
27. Xuyên qua tường, núi, đá, đồng bằng,
Bất cứ vật gì đứng cản ngăn,
Ðôi mắt ngài đây đều thấy suốt
Khoảng chừng trăm dặm ở mười phương.
 
Khi ngâm kệ xong, ngài vụt đứng trên không trước hội chúng này cùng với lời khuyến giáo bậc Ðại sĩ phải tỉnh giác tu tập, rồi Thiên chủ trở về Thiên giới. Còn bậc Ðại sĩ được đám tùy tùng vây quanh, ngự xa giá về kinh thành trong cảnh uy nghi trọng thể và ngài bước vào cung điện mệnh danh Candaka hay Khổng tước Nhãn (Con mắt chim công).
 
Nguồn tin đức vua đã được phục hồi cặp mắt vang dậy khắp vương quốc Sivi. Toàn dân tập họp lại để yết kiến ngài cùng với các cống vật trong tay. Bậc Ðại sĩ suy nghĩ: "Giờ đây hội chúng này đã tụ họp đông đủ, ta sẽ tán thán việc bố thí vừa rồi đã làm". Ngài truyền lệnh dựng lên một ngôi đình ngay cổng thành, nơi đó ngài ngự trên môt vương toạ với chiếc lọng trắng hoàng gia che trên đầu ngài, triệu tập các hội đoàn, dân chúng, quân sĩ lại; rồi ngài phán:
 
- Này dân chúng Sivi, nay các người đã nhìn thấy cặp thiên nhãn này thì đừng có bao giờ ăn thứ gì mà không đem bố thí đi một ít!
 
Rồi ngài ngâm bốn vần kệ tuyên thuyết Pháp lành:
 
28. Nếu mình được gợi ý thi ân,
Nào ai có từ chối được chăng,
Dù đó là phần cao quý nhất,
Của mình, bảo vật giá vô ngần
 
29. Dân chúng Sivi hội họp đoàn,
Ðến đây, nhìn cặp mắt trời ban!
Xuyên qua tường đá, đồi, thung lũng
Bất cứ vật gì đứng cản ngăn
Ðôi mắt ta đều trông thấy suốt
Một trăm dặm trải khắp mười phương.
 
30. Từ bỏ thân mình giữa thế nhân
Là điều cao quý nhất trên trần,
Ta đem bố thí mắt phàm tục,
Nên được trời cho cặp mắt thần.
 
31. Dân chúng này xem, hãy phát ban,
Nhường phần cho kẻ khác khi ăn,
Nếu làm việc ấy đầy tâm thiện,
Người sẽ sinh thiên chẳng lỗi lầm.
 
Ðức vua thuyết Pháp qua bốn vần kệ này và về sau cứ mỗi nửa tháng, vào ngày Trai giới và mỗi ngày rằm ngài lại thuyết Pháp qua các vần kệ trên liên tục trước đám dân chúng đông đảo quây quần. Nghe lời ấy, dân chúng bố thí và làm nhiều thiện sự, cho nên đã đi lên gia nhập hội chúng cõi trời thật đông đúc.
 
Sau khi bậc Ðạo sư chấm dứt Pháp thoại này ngài bảo:
 
- Như vậy, này các Tỳ kheo, các bậc trí nhân ngày xưa không thỏa mãn việc bố thí ngoại tài, nên đã bố thí cho bất cứ người nào ngẫu nhiên đến xin chính cả đôi mắt của mình lấy từ đầu ra nữa.
 
Rồi Ngài nhận diện Tiền thân:
 
- Vào thời ấy Ànanda là phẫu thuật sư Sivaka, Anuruddha (A na luật đà) là Thiên chủ Ðế Thích, hội chúng của đức Phật là toàn dân và Ta chính là vua Sivi.
 
Chuyện thứ mười: Sức mạnh của sự kiên quyết trong việc nói lên sự thật xấu xa
 
(Trích từ chuyện số 431: Chuyện Nam tử Hàrita (Tiền thân Hàrita)
 
Ngài suy nghĩ: "Nếu ta nói ta không phạm tội lỗi, vị vua này sẽ tin ta, nhưng trên thế gian này, không có một căn cứ nào vững chắc bằng nói sự thật. Người nào từ bỏ sự thật, dù ngồi trong Bồ đề đạo tràng linh thiêng cũng không để đạt quả Phật. Vậy ta cần nói sự thật".
 
Hà-ri Hiền hữu, trẫm nghe rằng...,
Bậc Ðạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một Tỳ kheo bất mãn.
Bấy giờ Tỳ kheo này trở nên bất mãn sau khi nhìn thấy một nữ nhân phục sức lộng lẫy nên cứ để cho lông tóc, móng tay chân dài ra và muốn hoàn tục. Khi ông miễn cưỡng bị các vị giáo thọ và giám hộ đưa đi yết kiến bậc Ðạo sư và được Ngài hỏi xem có đúng là ông thối thất chăng và tại sao như vậy, ông đáp:
 
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn, chính vì uy lực của dục tham, sau khi nhìn thấy một nữ nhân xinh đẹp.
 
Bậc Ðạo sư bảo:
 
- Này Tỳ kheo, tham dục huỷ hoại công đức, hơn nữa, rất đáng nhàm chán, nó làm cho con người tái sinh vào địa ngục; thế thì sao tham dục này lại không đưa đến sự suy tàn của ông? Bởi vì trận cuồng phong vùi dập đỉnh núi Sineru (Tu di) vẫn không ngần ngại cuốn đi một ngọn lá khô héo. Chính vì tham dục này, những người thực hành theo trí thức và trí tuệ, đã đắc năm Thắng trí và tám Thiền chứng, dẫu là Thánh nhân vĩ đại, vẫn không đủ khả năng ổn định tâm tư nên sa đoạ đánh mất Thiền lực vi diệu.
 
Rồi ngài kể một chuyện quá khứ.
 
Ngày xưa khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba la nại, Bồ Tát được sinh ở một làng trong một gia đình Bà la môn có tài sản đến tám triệu đồng và do màu vàng ánh của ngài, cha mẹ đặt tên ngài là Harittacakumàra (Nam tử Kim sắc). Khi lớn khôn và đã được giáo dục tại Takkasilà, ngài trở thành người gia chủ. Vừa khi cha mẹ từ trần, ngài đi thanh tra đủ các kho báu của mình và suy nghĩ: "Tài sản kho báu tiếp tục tồn tại, còn những người tạo ra nó lại mất cả rồi. Ta cũng tan thành tro bụi khi chết".
 
Như vậy do nỗi sợ chết báo động, ngài thực hành đại bố thí, rồi vào vùng Tuyết Sơn sống đời tu hành, đến ngày thứ bảy ngài thành tựu các Thắng trí và các Thiền chứng. Ngài sống ở đó một thời gian bằng củ quả rừng, rồi xuống núi tìm muối và dấm, dần dần ngài đến tận Ba la nại. Ngài sống trong ngự viên và ngày hôm sau, khi khất thực ngài đến cửa cung vua. Vua rất hoan hỷ khi thấy ngài nên đã truyền mời ngài vào ngồi trên vương toạ dưới bóng mát của chiếc lọng trắng và cúng dường ngài đủ thứ cao lương mỹ vị.
 
Khi lời nói lời tuỳ hỷ công đức, vua vô cùng đẹp ý hỏi:
 
- Bạch Tôn giả, ngài sắp đi đâu?
 
- Tâu Ðại vương, chúng tôi tìm một nơi an cư mùa mưa.
 
- Thế thì tốt lắm, bạch tôn giả. Vua bảo.
 
Rồi sau buổi điểm tâm, vua cùng đi với ngài đến ngự viên, truyền dựng am thất ban ngày lẫn ban đêm cho ngài ở, chỉ định người giữ ngự viên làm hầu cận của ngài, rồi vua kính chào ngài ra về. Từ đó bậc Ðại sĩ thường xuyên ăn uống ở cung vua và sống tại nơi ấy suốt mười hai năm liền. Một hôm, vua đi dẹp loạn ở biên giới, nên đã giao phó hoàng hậu chăm sóc Bồ Tát và bảo bà:
 
- Ðừng xao lãng việc phụng sự "Phước điền" của chúng ta.
 
Từ đó trở về sau, hoàng hậu tự tay phục vụ bậc Ðại sĩ rất chu đáo.
 
Một hôm, hoàng hậu đã chuẩn bị thực phẩm của ngài xong và vì ngài đến muộn, nên bà đi tắm nước hương thơm ngát, choàng chiếc y bằng lụa mỏng manh mềm mại, rồi mở cửa thượng lầu nằm xuống một vương sàng nhỏ để cho gió lùa trên thân thể bà.
 
Sau đó, Bồ Tát đắp hạ y và thượng y, cầm bình bát, du hành qua không gian đi vào cửa sổ ấy. Khi hoàng hậu vội vàng đứng dậy vì nghe tiếng sột soạt của các tấm y bằng vỏ cây trên thân ngài, chiếc y bằng lụa mỏng rơi khỏi người bà. Một đối tượng lạ thường đập vào mắt bậc Ðại sĩ. Rồi một dục tưởng đã ẩn trong tâm ngài từ vô lượng kiếp, chợt bừng dậy như một con rắn nằm trong hộp, xua tan thiền lực của ngài.
 
Rồi không đủ khả năng ổn định tư tưởng, ngài đến chụp lấy hoàng hậu bằng đôi tay và hai vị lập tức kéo màn che phủ quanh người. Sau khi đã phạm tà dục với bà, ngài thọ thực và trở về ngự viên. Từ đó về sau, ngày nào ngài cũng đến làm như vậy. Tà hạnh của ngài vang dậy khắp kinh thành. Các cận thần của vua dâng sớ tâu trình vua: "Nhà khổ hạnh Hàrita đang hành động như vậy như vậy".
 
Vua suy nghĩ: "Họ nói như vậy để ly gián chúng ta" và vua không tin chuyện ấy. Khi vua đã bình định vùng biên địa xong, liền trở về Ba la nại và sau buổi diễn binh oai nghi khắp kinh thành, vua đến gặp hoàng hậu và hỏi:
 
- Có thật Thánh nhân khổ hạnh Hàrita đã phạm tà dục với ái hậu chăng?
 
- Tâu Chúa thượng, quả đúng vậy.
 
Vua vẫn không tin lời bà và suy nghĩ. "Ta sẽ hỏi chính vị ấy". Rồi đi đến ngự viên, vua vái chào ngài, ngồi kính cẩn một bên và ngâm vần kệ đầu để hỏi chuyện:
 
1. Hà-ri Hiền hữu, trẫm nghe rằng
Tôn giả nay đang sống lỗi lầm,
Trẫm chẳng tin lời đồn đại ấy,
Ngài không phạm tội ý, thân chăng?
 
Ngài suy nghĩ: "Nếu ta nói ta không phạm tội lỗi, vị vua này sẽ tin ta, nhưng trên thế gian này, không có một căn cứ nào vững chắc bằng nói sự thật. Người nào từ bỏ sự thật, dù ngồi trong Bồ đề đạo tràng linh thiêng cũng không để đạt quả Phật. Vậy ta cần nói sự thật".
 
Trong vài trường hợp, một vị Bồ Tát có thể sát sinh, lấy của không cho, phạm tà dục và uống rượu nồng, nhưng vị ấy không được nói dối đi kèm với sự lừa phỉnh vi phạm chân lý của vạn vật. Vì thế ngài ngâm vần kệ thứ hai chỉ nói lên sự thật:
 
2. Ta phạm ác hành, hỡi Ðại vương,
Ðúng như ngài đã được nghe rằng
Mắc vào tà thuật trong trần thế,
Ta đã đi sai lạc bước đường.
 
Nghe vậy, vua ngâm vần kệ thứ ba:
 
3. Trí tuệ uyên thâm của thế nhân
Hoài công vô ích, chẳng xua tan
Dục tham bùng dậy trong lòng dạ
Của bậc trí nhân đã lạc đường.
 
Sau đó Hàrita nêu rõ cho vua thấy uy lực của dục tham qua vần kệ thứ tư:
 
4. Bốn ác dục này ở thế gian
Uy quyền lấn áp cứ lan tràn:
Tham, sân, vô độ và si ám,
Tri kiến không sao đứng vững vàng.
 
Vua nghe liền ngâm vần kệ thứ năm:
 
5. Thánh hạnh tràn đầy với trí minh
Hà-ri Hiền giả đáng tôn vinh!
 
Hiền giả Hàrita ngâm tiếp vần kệ thứ sáu:
 
6. Ác tâm, tham dục, do liên kết,
Huỷ hoại trí nhân hướng Thánh hành.
 
Sau đó vua ngâm vần kệ thứ bảy khuyến nhủ vị ấy quẳng bỏ mọi tham dục:
 
7. Vẻ đẹp trong tâm tịnh sáng ngời
Bị hư vì ác dục sinh sôi,
Quẳng ngay, hạnh phúc đang chờ đón,
Quần chúng tuyên dương trí tuệ ngài.
 
Khi ấy Bồ Tát đã phục hồi năng lực Thiền định và quán sát sự đau khổ của tham dục, ngài ngâm vần kệ thứ tám:
 
8. Vì tham dục trói buộc thân này,
Sinh sản cho ta quả đắng cay,
Ta quyết cắt sâu cho tận gốc
Mọi mầm tham dục khởi lên đây.
 
Nói vậy xong, ngài xin phép vua, rồi sau khi được chấp nhận, ngài về tham am tập trung nhãn lực vào đề tài và nhận định, sau đó bước ra khỏi am, ngồi bắt chéo chân trên không và giảng Chánh pháp cho vua, ngài bảo:
 
- Tâu Ðại vương, ta đã tạo nên sự chỉ trích của quần chúng vì ta cư trú một nơi mà ta không nên cư trú. Nhưng giờ đây xin Ðại vương hãy tỉnh giác hộ phòng. Còn ta sẽ trở về núi rừng thoát ly mọi ô nhiễm của nữ sắc.
 
Rồi giữa những giọt nước mắt và tiếng than khóc của vua, ngài trở về Tuyết Sơn, rồi không gián đoạn Thiền định, ngài lên cõi Phạm thiên.
 
Bậc Ðạo sư biết toàn thể câu chuyện và bảo:
 
9. Như vậy, Hà-ri bậc trí nhân
Ðấu tranh vì Chánh pháp kiên cường,
Vừa khi rời bỏ niềm tham dục,
Hướng đến Phạm thiên tiến thẳng đường.
 
Sau khi ngâm vần kệ do trí tuệ tối thắng, ngài tuyên thuyết các Sự thật. Vào lúc kết thúc các Sự thật, vị Tỳ kheo có tâm thế tục ấy đã đắc Thánh quả.
 
Rồi Ngài nhận diện tiền thân:
 
- Thời bấy giờ vua là Ànanda và Hàrita chính là Ta.
 
Nguồn tham khảo: https://www.budsas.org/uni/index.htm


Các tin bài, hình ảnh, thư từ muốn đăng lên Website: chuathien.vn xin gửi vào địa chỉ: chuathien2014.@gmail.com
Ý kiến của bạn 0
Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài và điền đầy đủ thông tin. Bình luận của bạn sẽ được phản hồi trong thời gian sớm nhất

Thăm dò ý kiến

Lĩnh vực quan tâm chính là gì?
Số lượngTỷ lệ
134( 47 %)
56( 19 %)
23( 8 %)
31( 11 %)
44( 15 %)
Số người tham gia bình chọn: 288
Lần bình chọn đầu tiên: Thứ 5 , 18/04/2013 17:12
Lần bình chọn sau cùng: Thứ 6 , 08/03/2019 17:40

Thông báo

Thông báo: Chương trình lễ Phật đản chùa Phúc Lâm

Trong niềm hân hoan hướng về kỷ niệm ngày đản sinh của Đức Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật – vị thầy của 3 cõi,...
Chi tiết »

Chùa Phúc Lâm Thông báo: chính thức khởi công công trình giảng đường

8h ngày 7/3/2019 (tức ngày 2/2/Kỷ Hợi) chùa Phúc Lâm chính thức khởi công công trình giảng...
Chi tiết »

THÔNG BÁO: KHÓA TU 1 NGÀY AN LẠC THÁNG GIÊNG/KỶ HỢI CHÙA PHÚC LÂM

CHỦ NHẬT, ngày 03/03/2019 (tức ngày 27Giêng/Kỷ Hợi) chùa Phúc Lâm tổ chức khóa tu một ngày an...
Chi tiết »

Video

Pháp âm

 

Pháp âm

 
 

Tin tức mới

Hà Nội rực rỡ trong những sắc hoa mùa hè

Khi tiếng ve bắt đầu râm ran trên vòm lá, mùa hè đến. Chẳng non tơ như những ngày mới vào...
Chi tiết »

Cuộc thi Olympic tiếng Việt đầu tiên tại Kiev (Ukraine)

Cuộc thi Olympic tiếng Việt đầu tiên tại Ukraine là dịp để các em học sinh thể hiện tình yêu đối với tiếng Việt,...
Chi tiết »

Chính thức kể từ hôm nay: 1 kilogram đã không còn là 1 kilogram chúng ta từng biết nữa

Khái niệm 1kg trên thế giới sẽ chính thức thay đổi sau hôm nay - Ngày Đo lường khoa học thế giới. Đơn vị...
Chi tiết »

Buổi thăm và họp mặt giao lưu của Đoàn công tác Trường Sa thành phố Hà Nội 2019 tại chùa Vạn Phúc.

Sáng ngày 19/5/2019, Đoàn công tác Trường Sa thành phố Hà Nội đã họp mặt giao lưu tại...
Chi tiết »

Thăm dò ý kiến

Lĩnh vực quan tâm chính là gì?




Thống kê truy cập

00000002

Hôm nay: 227

Hôm qua: 1628

Tháng này: 34080

Tháng trước: 52374

Tất cả: 2258496


Đang online: 1
IP: 52.23.234.7
Unknown 0.0